cis_banner_final_en.png
Chiến tranh tại Ukraine tạo áp lực lên chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ

19/03/2022


Chiến tranh tại Ukraine tạo áp lực lên chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ

Ấn Độ có nguy cơ bị gạt sang một bên trong cấu trúc khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng phân cực.


Mặc dù Chính sách Hành động phía Đông của Ấn Độ có vẻ như ở vị trí địa lý quá xa cuộc chiến của Nga tại Ukraine, nhưng cuộc chiến đó lại có ý nghĩa đối với sự can dự về phía Đông của New Delhi. Điều này xảy ra trong bối cảnh áp lực mới đối với sự ủng hộ lâu nay của Ấn Độ đối với việc không liên kết và tự chủ chiến lược trong chính sách đối ngoại. Đã có những dấu hiệu cho thấy New Delhi đang rời bỏ cách tiếp cận này sau cuộc đụng độ với quân đội Trung Quốc ở Thung lũng Galwan vào tháng 6 năm 2020. Đáng chú ý là, việc Ấn Độ ký kết hợp đồng xuất khẩu tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos với Philippines gần đây cho thấy dấu hiệu Ấn Độ đang cố gắng phô bày tư thế quyết đoán hơn trong khu vực, bằng cách hỗ trợ Philippines tăng cường khả năng phòng thủ ven biển trước mối đe dọa dai dẳng từ Trung Quốc trên Biển Đông.

Tuy tinh thần không liên kết đang trở nên không còn phù hợp đối với Ấn Độ trong bối cảnh của cuộc chiến Trung Quốc-Mỹ (rõ ràng là New Delhi nghiêng về phía Washington và rời xa Bắc Kinh), nhưng tinh thần không liên kết vẫn là yếu tố quan trọng để Ấn Độ định vị trong mối quan hệ Nga-Mỹ. Tình trạng ngày càng gia tăng hoạt động từ phía Nga sẽ gây áp lực lên New Delhi, buộc New Delhi phải đưa ra những lựa chọn khó khăn. Chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ sẽ là một thử nghiệm quan trọng cho điều này.

Điều chỉnh lại vị thế không liên kết

Về lý thuyết, những căng thẳng mới đây giữa Nga và phương Tây chính là thể hiện thế giới quan của Ấn Độ, vì khái niệm không liên kết đã được phát triển trong Chiến tranh Lạnh như một phương tiện để New Delhi duy trì sự linh hoạt chiến lược vượt qua sự phân rẽ về ý thức hệ. Trên thực tế, tuy mong muốn không liên kết nhưng New Delhi thường nghiêng về một bên, ví dụ như trường hợp của cuộc chiến năm 1962 với Trung Quốc, Ấn Độ tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ, hay cuộc chiến năm 1971 với Pakistan, khi Ấn Độ được Liên Xô giúp đỡ. Ấn Độ khi đó đã tham gia khối Liên minh, ký Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác.

Tuy nhiên, mối quan hệ của New Delhi với Washington trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh khiến Ấn Độ ngày càng không thể duy trì mối quan hệ chặt chẽ với cả Nga và Mỹ khi quan hệ giữa cả hai nước ngày càng xấu đi. Tình hình càng thêm phức tạp do sự liên kết ngày càng tăng giữa Trung Quốc và Nga. Trung Quốc và Ấn Độ cùng bỏ phiếu trắng trong cuộc bỏ phiếu của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lên án hành động của Nga tại Ukraine. Hành động này chỉ nên hiểu là sự đồng thuận tạm thời giữa Bắc Kinh và New Delhi.

New Delhi ủng hộ Bắc Kinh và Moscow đối với trật tự thế giới đa cực. Nhưng nếu buộc phải lựa chọn, thì Ấn Độ lại thích một trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo hơn là một trật tự thế giới do Trung Quốc lãnh đạo. New Delhi thích SWIFT hơn CIPS (Hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới) do Trung Quốc phát triển, thích GPS của Mỹ hơn là hệ thống định vị vệ tinh BeiDou của Trung Quốc, và mong muốn có các cuộc tuần tra Tự do Hàng hải của Mỹ ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương hơn là biến Biển Đông trở thành “ao nhà của Trung Quốc”. (Tất nhiên, Ấn Độ cũng đang nỗ lực phát triển các giải pháp bản địa của riêng Ấn Độ để dần thay thế cho các hệ thống do Mỹ và Trung Quốc dẫn đầu.)

Cho đến nay, Ấn Độ đã xoay sở để vượt qua sự phân rẽ này. Ví dụ, New Delhi là thành viên của các sáng kiến khu vực với cả Mỹ (ví dụ Bộ tứ) và Nga/Trung Quốc (ví dụ: Tổ chức Hợp tác Thượng Hải). Tuy nhiên, trong bối cảnh quan hệ của Ấn Độ với Mỹ ngày càng sâu sắc, quan hệ khó khăn với Trung Quốc và vị thế gia tăng của Nga, Ấn Độ sẽ ngày càng bị coi là lạ lùng khi không chọn phe trong mối quan hệ ba bên Nga-Trung-Ấn.

Hơn nữa, trong khi Ấn Độ đang phát triển các cơ chế để duy trì sự gắn bó với Nga, thì nước này sẽ ngày càng dễ bị tổn thương trước các áp lực của phương Tây. Ngay cả Trung Quốc, với nguồn lực kinh tế lớn hơn nhiều, cũng không thể phát triển một giải pháp thay thế đáng tin cậy cho hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT. Trước các hành động quân sự gần đây nhất của Nga ở Ukraine, vị thế không liên kết của Ấn Độ cũng sẽ chịu áp lực nếu có các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với việc Nga bán hệ thống phòng không S-400 cho Ấn Độ. Đồng thời, New Delhi sẽ khó có thể tách rời hoàn toàn khỏi Moscow do Ấn Độ phụ thuộc quá nhiều vào khí tài quân sự của Nga. Ấn Độ có mối quan hệ sâu sắc với Moscow và có mong muốn ngăn cản Nga có mối quan hệ sâu sắc hơn với các đối thủ chiến lược chính của Ấn Độ, là Trung Quốc và Pakistan.

Suy nghĩ lại về “Hành động phía Đông”

Sự tham gia của Ấn Độ về phía đông sẽ diễn ra ở đâu? Chính sách Hướng Đông (được đổi tên thành Chính sách Hành động phía Đông vào năm 2014) đã đi tới thập kỷ thứ ba. Chính sách này xuất hiện sau Chiến tranh Lạnh, trong bối cảnh New Delhi đang nỗ lực khôi phục tầm quan trọng của Đông Nam Á (và sau này là Đông Á và rộng hơn là Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương) trong chương trình nghị sự chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Điều này đòi hỏi các tương tác thường xuyên và được thể chế hóa hơn với khu vực các nước phía Đông Ấn Độ, bao gồm các nỗ lực tăng cường hội nhập kinh tế và hợp tác chiến lược (đặc biệt trong lĩnh vực hàng hải), cũng như giao lưu nhân dân và văn hóa.

Tuy nhiên, chính sách này vẫn còn là sản phẩm của thời xưa, phản ánh nhiệm vụ tìm kiếm các mối liên kết mới hình thành trong hệ thống quốc tế sau khi loại bỏ các ràng buộc cấu trúc do sự phân chia trong Chiến tranh Lạnh gây ra. Khi hệ thống quốc tế đối mặt với sự phân nhánh mới, sẽ có những câu hỏi về tính bền vững của chính sách cũ.

Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ S. Jaishankar đã nói trong một bài phát biểu vào năm 2020:

Mối quan hệ đương đại giữa Ấn Độ và ASEAN [Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á] được thiết lập rất quan tâm đến toàn cầu hóa. Ít nhất ở châu Á, ASEAN là những người đi tiên phong trong quá trình đó và giúp đưa Ấn Độ can dự vào hoạt động ở phía đông. Nhưng khi thế giới trở nên căng thẳng như ngày nay, chúng ta cần phải suy tính nhiều hơn là chỉ bó hẹp trong hợp tác kinh tế và xã hội.

Từ lâu, Ấn Độ đã mong muốn xây dựng cấu trúc khu vực mở và bao trùm, điều này giải thích sự ủng hộ của Ấn Độ đối với quá trình hội nhập khu vực do ASEAN dẫn đầu. Tuy nhiên, New Delhi cũng đang gia tăng vị thế thành viên trong các nhóm khu vực nhỏ độc quyền hơn, chẳng hạn như nhóm Tứ giác (Đối thoại An ninh Tứ giác) và liên kết ba bên Ấn Độ-Nhật Bản-Mỹ. Các sáng kiến ​​này đã phát triển chín muồi, có sự tham gia của lãnh đạo cấp cao hơn, đồng thời trọng tâm của mối quan tâm đã nhiều hơn một vấn đề. Ví dụ, nhóm Quad, có nguồn gốc từ lĩnh vực hàng hải do hoạt động cứu trợ nhân đạo sau trận sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004, nhóm này đã phát triển chương trình nghị sự trên phạm vi rộng hơn, tập trung vào các vấn đề như đại dịch COVID-19, khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đồng thời, mặc dù New Delhi duy trì cam kết chính thức đối với nguyên tắc “lấy ASEAN làm trung tâm” trong cấu trúc khu vực, sự phân chia của hệ thống quốc tế có nguy cơ làm suy yếu điều này. ASEAN đã và đang phải đối mặt với những lời chỉ trích trong bối cảnh ASEAN có những hành động (hoặc không hành động) đối với những diễn biến quan trọng của khu vực, bao gồm đại dịch, sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông và tình hình chính trị và nhân đạo đang xấu đi ở Myanmar. ASEAN hiện đang phải đối mặt với sự giám sát kỹ lưỡng hơn trong bối cảnh họ có phản ứng thờ ơ trước những diễn biến ở Ukraine. Hơn nữa, thực tế là một số sáng kiến do ASEAN lãnh đạo, bao gồm Diễn đàn Khu vực ASEAN, Hội nghị Cấp cao Đông Á và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Plus, là những diễn đàn mà Mỹ, Nga và Trung Quốc đều là thành viên, sẽ khiến những đấu trường này ngày càng trở nên khó đồng thuận do các quốc gia này vốn dĩ nhiều bất đồng.

Mặt khác, bất chấp việc Ấn Độ tham gia ngày càng nhiều vào các nhóm khu vực đa phương, chẳng hạn như Tứ giác, New Delhi vẫn duy trì các ranh giới mà họ không thể hoặc không muốn vượt qua. Một ví dụ chính về điều này là việc Ấn Độ vắng mặt trong các cuộc tuần tra Tự do Hàng hải do Mỹ dẫn đầu ở Biển Đông. Trong khi phản đối yêu sách mở rộng cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc trong tuyến đường thủy quan trọng, New Delhi cũng phản đối cách giải thích của Washington về nguyên tắc “quyền đi qua không gây hại” được ghi trong UNCLOS (tàu thuyền các nước được đi ngang qua lãnh hải của nhau – ND) và Ấn Độ yêu cầu các tàu nước ngoài phải thông báo trước mới được đi vào Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Ấn Độ. Điều này trở nên rõ ràng vào tháng 4 năm 2021 khi New Delhi lên tiếng phản đối sự hiện diện của tàu USS John Paul Jones trong vùng đặc quyền kinh tế của Ấn Độ.

Sẽ vẫn còn những giới hạn đối với việc Ấn Độ sẵn sàng tham gia nhiều hơn vào các sáng kiến khu vực do Mỹ lãnh đạo trong bối cảnh New Delhi ủng hộ quyền tự chủ chiến lược và phi liên kết, cũng như những bất đồng trong việc giải thích các nguyên tắc chính như tự do hàng hải. Sự phụ thuộc quá lớn của Ấn Độ vào khí tài quân sự của Nga cũng sẽ làm chậm trễ, nếu không muốn nói là chệch hướng, xuất khẩu quốc phòng còn non trẻ nhưng đang gia tăng của Ấn Độ sang Đông Nam Á (ví dụ: BrahMos đã được phát triển như một phần của liên doanh với Nga). Điều này có nghĩa là trong bối cảnh quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc xấu đi nghiêm trọng, do một cuộc chiến toàn diện gây ra, Ấn Độ khó có thể tham gia các thỏa thuận an ninh được thể chế hóa nhiều hơn do Mỹ dẫn đầu, như nhóm Ngũ nhãn, nhóm AUKUS.

Điều này khiến New Delhi rơi vào tình thế không thể tránh khỏi là có khả năng trở thành người đứng ngoài cuộc trong cấu trúc khu vực khi ủng hộ nồng nhiệt cả các sáng kiến khu vực mở và bao trùm do ASEAN dẫn đầu và các nhóm khu vực độc quyền hơn do Mỹ và Trung Quốc dẫn đầu, chẳng hạn như Quad và SCO. Điều này đã thể hiện rõ ràng trong phản ứng trước cuộc xâm lược của Nga đối với Ukraine, Ấn Độ không thống nhất với các thành viên trong nhóm Quad về các hành động trừng phạt chống lại Nga. Sự khác biệt này có thể sẽ gia tăng khi Mỹ kêu gọi các đồng minh và đối tác trong khu vực hành động nhiều hơn nữa khi đối mặt với sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc và Nga. Điều này bao gồm việc tăng cường hỗ trợ cho các quốc gia nhỏ hơn đang đối mặt với áp lực từ Bắc Kinh, chẳng hạn như các quốc gia tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, song song với việc hỗ trợ Ukraine và các quốc gia Đông Âu nhỏ hơn trước sự hung hăng của Nga.

Kết luận

Những căng thẳng Nga – Mỹ dường như ít liên quan hơn trong bối cảnh Ấn Độ tham gia về phía đông, nơi mà cuộc cạnh tranh quan trọng giữa Mỹ và Trung Quốc ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã có những tác động lan tỏa rõ ràng. Ấn Độ đã phải đối mặt với những cáo buộc từ lâu về việc không chọn phe trong kiến ​​trúc khu vực. Đây là một phần chất xúc tác cho việc đổi tên Chính sách Hướng Đông thành Chính sách Hành động phía Đông vào năm 2014, phản ánh mục tiêu làm cho chính sách này trở nên “thực dụng hơn, hướng tới hành động và hướng tới kết quả thực chất”. Sự phân cực mới của hệ thống quốc tế có nguy cơ gia tăng thêm những áp lực này, đồng thời dẫn đến việc Ấn Độ có khả năng bị gạt ra ngoài lề trong cấu trúc khu vực. Điều này xảy ra trong bối cảnh New Delhi ủng hộ đa liên kết và tự chủ chiến lược và nỗ lực duy trì mối quan hệ bền vững với cả Moscow và Washington (mặc dù Ấn Độ không phải là nước duy nhất làm như vậy). Đây sẽ là những cân nhắc chính đối với New Delhi khi nước này hoàn thiện Chính sách Hành động phía Đông trong giai đoạn tiếp theo.

Tác giả: Tiến sĩ Chietigj Bajpaee, chuyên gia tư vấn chính sách công và tổ chức tư vấn rủi ro ở Châu Âu, Mỹ và Châu Á. Ông là tác giả của cuốn sách “Trung Quốc trong sự can dự của Ấn Độ sau Chiến tranh Lạnh với Đông Nam Á” (London: Routledge, 2022).

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Nguồn: https://thediplomat.com/2022/03/ukraine-war-adds-pressure-points-to-indias-act-east-policy/

Bình luận của bạn