cis_banner_final_en.png
Tại sao Ấn Độ có thể ứng phó trước sự biến động của dầu mỏ dù phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu?

18/07/2022


Tại sao Ấn Độ có thể ứng phó trước sự biến động của dầu mỏ dù phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu?


Tâm lý phẫn nộ khắp Ấn Độ ngày càng tăng lên cùng với chiều hướng gia tăng lạm phát và sự bất lực trong việc kiểm soát của chính phủ. Những người giận dữ đã phản đối việc chính phủ không nắm bắt được đà tăng giá dầu và tác động của nó đối với lạm phát.

So với mức 5,01% trong giai đoạn 2020-2021, lạm phát (được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng) tăng 6,34% trong giai đoạn 2021-2022. Bất chấp việc chính phủ giảm giá xăng và dầu diesel bằng cách giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, nhưng lạm phát đã tăng tốc trong ba tháng đầu của năm tài chính 2022-2023.

Giá xăng, dầu diesel và LPG tăng liên tục đã gây ra sự náo loạn. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2022, giá xăng và dầu diesel đã tăng 4 lần. Sau khi giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, mức giá đã giảm từ cuối tháng 5. Trong khi so sánh với giá ở hầu hết các nước châu Á, những nước phụ thuộc vào nhập khẩu dầu thô, mức giá của Ấn Độ hiện đang thấp hơn. Ví dụ, so với giá xăng ở Delhi ở mức 96,72 Rupee/ ít, nếu tính theo đồng rupee của Ấn Độ thì giá xăng ở Việt Nam là 113,96 Rs/lít (1,44 USD) ở Việt Nam, 114,68 Rs/lít (145 USD) ở Trung Quốc, 102 Rs 0,22 Rs/lít (1,29 USD) ở Myanmar, 119,80 Rs/lít (1,52 USD) ở Thái Lan, 123,77 Rs (1,57 USD) ở Philippines, 149,05 Rs/lít (1,89 USD) ở Lào và 239.26 Rs./lít (3,03 USD) tại Hồng Kông.

Giá dầu tăng và lạm phát

Tuy nhiên, việc tăng giá dầu có thực sự làm tăng lạm phát trong nước? Hồ sơ của chính phủ cho thấy một câu chuyện khác. Các yếu tố gây ra lạm phát là các mặt hàng thực phẩm, chứ không phải giá nhiên liệu dựa trên dầu mỏ. Lạm phát lương thực tăng 7-8% trong hai tháng đầu năm nay, giai đoạn 2021-2022, so với mức tăng 4% của giá nhiên liệu và điện. Thực phẩm có tỷ trọng lớn nhất trong chỉ số CPI (45,9) và nhiên liệu và điện có tỷ trọng thấp hơn (6,8). Điều này cho thấy sự gia tăng lạm phát chủ yếu là do các mặt hàng thực phẩm. Trọng số trong chỉ số cho biết tầm quan trọng của tác động của các ngành đối với lạm phát.

Tuy nhiên, những người bị thiệt hại không muốn tin vào số liệu thống kê của chính phủ, và cho rằng, thực tế là hoàn toàn trái ngược. Họ cho rằng, mặc dù việc tăng giá dầu ít tác động trực tiếp hơn đến lạm phát, nhưng nó lại có tác động gián tiếp thông qua lạm phát lương thực. Điều này là do hầu hết các mặt hàng thực phẩm được vận chuyển bằng đường bộ, bởi hậu cần đường sắt kém.

Tuy nhiên, báo cáo từ Nomura đã thách thức nhận thức của người dân, báo cáo lập luận rằng, lạm phát lương thực là do nguyên liệu đầu vào cao hơn và sự gia tăng trong MSP (Giá hỗ trợ tối thiểu). Bên cạnh đó, chính sách bảo hộ toàn cầu đối với thực phẩm có tác động đến lạm phát trong nước.

Sự phụ thuộc vào dầu và GDP

Ấn Độ là nước nhập khẩu dầu thô lớn thứ 3 toàn cầu. Hơn 99% lượng dầu thô cần thiết được đáp ứng bằng nhập khẩu. Sản xuất dầu thô trong nước vẫn trì trệ trong bốn thập kỷ do không có sự phục hồi mới. Điều này dẫn đến sự phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu dầu thô.

Lần tăng giá gần đây nhất của giá dầu toàn cầu là trong giai đoạn 2011-2012 đến 2013-2014. Trong khoảng thời gian 3 năm này, giá trong rổ dầu thô trung bình của Ấn Độ là 111 USD/thùng, so với mức giá trung bình là 77 USD/thùng trong 2 năm trước đó. Mặc dù vậy, Ấn Độ vẫn có thể duy trì mức tăng trưởng GDP bình thường, ở mức trung bình từ 5 đến 6% so với cùng kỳ.

Dầu không phải là nguồn cung cấp năng lượng chính cho các thông số tăng trưởng của nền kinh tế Ấn Độ. Than là nguồn năng lượng chính. Các ngành chính của nền kinh tế, chẳng hạn như nông nghiệp và sản xuất, phụ thuộc vào năng lượng từ than. Trong bảng cân đối sử dụng năng lượng, than chiếm 65% và dầu chiếm 29% tổng sử dụng năng lượng. Năng lượng từ dầu mỏ chủ yếu được sử dụng cho vận chuyển và đun nấu. Cuối cùng, giá dầu tăng có tác động đến lĩnh vực sản xuất. Không giống như các quốc gia khác, dầu mỏ không phải là nguồn năng lượng chính cho sản xuất ở Ấn Độ. Hơn một phần mười sản lượng của nó được sử dụng cho mục đích năng lượng công nghiệp, chẳng hạn như dầu nhiên liệu, naphtha và LDO (dầu diesel nhẹ).

Ở Ấn Độ, hơn 75% điện năng được tạo ra từ các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Dầu chiếm dưới 2% năng lượng điện.

Thành phần chính của năng lượng dầu là xăng, dầu diesel và LPG. Xăng và dầu diesel chiếm gần 53% tổng sản phẩm lọc hóa dầu. Với 100% xăng và gần 80% dầu diesel được sử dụng cho giao thông vận tải, gần 45% tổng sản phẩm lọc hóa dầu được sử dụng để vận chuyển. Thêm vào đó là LPG, chiếm 14% lượng dầu tiêu thụ. Nói cách khác, 60% tổng năng lượng từ dầu mỏ được sử dụng cho năng lượng vận chuyển và nấu nướng. Điều này có nghĩa là dầu mỏ không phải là năng lượng chính cho tăng trưởng công nghiệp và nông nghiệp ở Ấn Độ.

Dầu mỏ và ngoại thương

Mặc dù dầu mỏ là gánh nặng nhập khẩu chủ yếu, nhưng nó đã tạo ra một xu hướng mang tính kết cấu chính trong rổ hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu. Các sản phẩm từ dầu mỏ, tức là các sản phẩm lọc dầu là thành phần lớn thứ 2 trong giỏ hàng xuất khẩu của Ấn Độ. Trong năm 2021-2022, chúng chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ. Như vậy, tỷ giá ngoại tệ lớn do nhập khẩu dầu thô được bù đắp bằng xuất khẩu các sản phẩm lọc dầu. Năm 2021-2022, nhập khẩu ròng (xuất nhập khẩu) dầu thô và sản phẩm xăng dầu là 94,646 triệu USD so với tổng nhập khẩu dầu thô và sản phẩm xăng dầu là 162,075 triệu USD.

Điều này mang lại niềm an ủi lớn cho gánh nặng nhập siêu. Việc nhập khẩu nhiều dầu thô làm gia tăng thâm hụt thương mại là một điều khiến chúng ta lo lắng.

Tóm lại, niềm tin rằng giá dầu tăng dẫn đến lạm phát là một mánh khóe đối với tình trạng của Ấn Độ. Nó là vũ khí để chính trị hóa nền kinh tế.

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Nguồn: https://www.eurasiareview.com/18072022-why-is-india-resilient-to-oil-volatility-despite-overdependence-on-imports-analysis/

Bình luận của bạn